Hướng dẫn sử dụng kháng sinh bộ y tế mới nhất

*

Sử dụng chống sinh đúng chuẩn vô cùng có lợi trong chăm lo và chữa bệnh các bệnh lý lây lan trùng. Tuy nhiên, nếu như không tuân hành đúng cách dán rất có thể tổn hại mang đến khung hình, tạo ra chứng trạng chống dung dịch phòng sinc ẩn chứa các nguy cơ to lớn bự đến phiên bản thân cùng thôn hội về sau.

Bạn đang xem: Hướng dẫn sử dụng kháng sinh bộ y tế mới nhất


1. Lựa lựa chọn chống sinh cùng liều dùng

Lựa chọn thuốc kháng sinc phụ thuộc nhị yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh. Yếu tố liên quan liêu đến người bệnh cần coi xét bao gồm: lứa tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan – thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng… Nếu là phụ nữ: cần giữ ý đối tượng phụ nữ có thai, đã đến bé bú để cân nhắc lợi ích/nguy cơ. Về vi khuẩn: loại vi khuẩn, độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn. Cần cập nhật tình hình kháng kháng sinh để có lựa chọn phù hợp. Cần giữ ý các biện pháp phối hợp để làm giảm mật độ vi khuẩn và tăng nồng độ kháng sinch tại ổ nhiễm khuẩn nhỏng làm sạch ổ mủ, dẫn lưu giữ, loại bỏ tổ chức hoại tử… lúc cần.Chính sách kê đơn kháng sinh nhằm giảm tỷ lệ phát sinch vi khuẩn kháng thuốc và có được tính ghê tế hợp lý trong điều trị. Với những kháng sinc mới, phổ rộng, chỉ định sẽ phải hạn chế đến những trường hợp có bằng chứng là các kháng sinch vẫn dùng đã bị kháng.Liều dùng của kháng sinch phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi người bệnh, cân nặng, chức năng gan – thận, mức độ nặng của bệnh. Do đặc điểm khác biệt về dược động học, liều lượng mang đến trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và nhũ nhi có hướng dẫn riêng theo từng chuyên luận. Liều lượng vào các tài liệu chỉ dẫn chỉ với gợi ý ban đầu. Không có liều chuẩn đến các trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến thất bại điều trị và tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc. Ngược lại, với những kháng sinc có độc tính cao, phạm vi điều trị hẹp (ví dụ: các aminoglycosid, polypeptide), phải bảo đảm nồng độ thuốc vào máu theo khuyến cáo để kị độc tính, vì chưng vậy, việc giám sát nồng độ thuốc trong máu nên đƣợc triển knhị.

2. Sử dụng chống sinc dự phòng

Kháng sinh dự phòng (KSDP) là việc sử dụng kháng sinch trước lúc xảy ra nhiễm khuẩn nhằm mục đích ngăn ngừa hiện tượng này.

Kháng sinch dự phòng nhằm giảm tần xuất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật <10>.

a) Chỉ định sử dụng kháng sinc dự phòng (Phụ lục 2, 3):

Phẫu thuật được chia làm 4 loại: Phẫu thuật sạch, phẫu thuật sạch – nhiễm, phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn (theo phụ lục…).Kháng sinch dự phòng được sai khiến mang lại tổng số các can thiệp phẫu thuật thuộc phẫu thuật sạch – nhiễm.Trong phẫu thuật sạch, liệu pháp kháng sinc dự phòng nên áp dụng với một số can thiệp ngoại khoa nặng, có thể ảnh hưởng tới sự sống còn và/hoặc chức năng sống (phẫu thuật chỉnh hình, phẫu thuật tyên ổn và mạch máu, phẫu thuật thần khiếp, phẫu thuật nhãn khoa)Phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn: kháng sinh đóng vai trò trị liệu. Kháng sinch dự trữ không ngăn ngừa nhiễm khuẩn mà ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã xảy ra không tiến lên.

b) Lựa chọn kháng sinch dự phòng:

Kháng sinc có phổ tác dụng phù hợp với các chủng vi khuẩn chính thường gây nhiễm khuẩn tại vết mổ cũng nhỏng tình trạng kháng thuốc tại địa phương, đặc biệt vào từng bệnh việnKháng sinch ít hoặc không gây tác dụng phụ hay các phản ứng có hại, độc tính của thuốc càng ít càng xuất xắc. Không sử dụng các kháng sinh có nguy cơ gây độc không dự đoán được và có mức độ gây độc nặng không phụ thuộc liều (VD: kháng sinch nhóm phenicol và sunfamid gây giảm bạch ước miễn dịch dị ứng, hội chứng Lyell).Kháng sinc không tương tác với các thuốc dùng để gây mê (VD polymyxin, aminosid).Kháng sinc ít có khả năng chọn lọc vi khuẩn đề kháng kháng sinc và cụ đổi hệ vi khuẩn thường trú.Khả năng khuếch tán của kháng sinc vào mô tế bào phải mang lại phép đạt nồng độ thuốc cao hơn nồng kháng khuẩn tối tgọi của vi khuẩn gây nhiễm.Liệu pháp kháng sinh dự phòng có bỏ ra phí hợp lý, thấp hơn chi phí kháng sinch trị liệu lâm sàng.

c) Liều kháng sinc dự phòng:

Liều kháng sinch dự phòng tương đương liều điều trị mạnh nhất của kháng sinh đó (Phụ lục 2).

d) Đường dùng thuốc

Đường tĩnh mạch: Thường được lựa chọn vì nkhô hanh đạt nồng độ thuốc trong máu và mô tế bào.Đường tiêm bắp: có thể sử dụng tuy nhiên không đảm bảo về tốc độ hấp thụ của thuốc và không ổn địnhĐường uống: Chỉ dùng Khi chuẩn bị phẫu thuật trực tràng, đại tràngĐường tại chỗ: Hiệu quả thế đổi theo từng loại phẫu thuật (vào phẫu thuật vắt khớp, sử dụng chất xi măng tẩm kháng sinh)

e) Thời gian dùng thuốc

Thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng nên vào vòng 60 phút trmong Lúc tiến hành phẫu thuật và gần thời điểm rạch da.Cephalosporins tiêm tĩnh mạch vào 3 – 5 phút ngay trước thủ thuật và đạt nồng độ cần thiết ở domain authority sau vài phút.Vancomycin và ciprofloxacin cần phải đƣợc dùng trcầu MỘT GIỜ và HOÀN THÀNH việc truyền trmong lúc khởi đầu rạch da.Clindamycin cần được truyền xong xuôi trmong 10 – trăng tròn phút.Gentamicin cần được dùng 1 liều duy nhất 5 mg/kilogam để tối nhiều hóa sự thấm vào mô và giảm thiểu độc tính. Nếu người bệnh lọc máu hoặc ClCr Đối với phẫu thuật mổ lấy tnhì, kháng sinh dự phòng có thể dùng trước khi rạch domain authority hoặc sau thời điểm kẹp dây rốn để giảm biến chứng nhiễm khuẩn ở mẹ.Bổ sung liều trong thời gian phẫu thuật:

Trong phẫu thuật tyên kéo dài hơn 4 giờ, cần bổ sung thêm một liều kháng sinh.

Trong trường hợp mất máu với thể tích trên 1500ml ở người lớn, và trên 25ml/kilogam ở trẻ em, nên bổ sung liều kháng sinc dự trữ sau khi bổ sung dịch thế thế.

g) Lưu ý khi sử dụng kháng sinc dự phòng:

– Không dùng kháng sinh để dự phòng mang đến các nhiễm khuẩn liên quan liêu đến chăm sóc sau mổ và những nhiễm khuẩn xảy ra trong lúc mổ.

– Nguy cơ khi sử dụng phòng sinc dự phòng:

+ Dị ứng thuốc.

+ Sốc phản vệ.

+ Tiêu chảy vì chưng kháng sinh.

+ Nhiễm khuẩn vị vi khuẩn Clostridium difficile.

+ Vi khuẩn đề kháng kháng sinc.

+ Lây truyền vi khuẩn nhiều kháng.

3. Sử dụng kháng sinch điều trị theo gớm nghiệm

– Điều trị kháng sinc theo khiếp nghiệm Khi không có bằng chứng về vi khuẩn học vì chưng không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn (bởi vì không có Labo vi sinc, không thể lấy được bệnh phẩm), hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát hiện được nhưng mà có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn.

– Phác đồ sử dụng kháng sinh theo khiếp nghiệm là lựa chọn kháng sinc có phổ hẹp nhất gần với toàn thể các tác nhân gây bệnh hoặc với các vi khuẩn nguy hiểm có thể gặp trong từng loại nhiễm khuẩn.

– Kháng sinc phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả tuy thế không gây độc.

– Trmong lúc khởi đầu điều trị, cố gắng đem mẫu bệnh phẩm để phân lập vi khuẩn trong những trường hợp có thể để điều chỉnh lại kháng sinch phù hợp hơn.

– Nên áp dụng mọi biện pháp phát hiện nhanh vi khuẩn Khi có thể (Xem Chương II. Đại cương về vi khuẩn học) để có được cơ sở đúng đắn vào lựa chọn kháng sinc tức thì từ đầu.

Xem thêm: Cỏ Tranh:Hã¬Nh Áº£Nh, Tã¡C DụNg ChữA Bãªnh, Cã¡Ch NấU Rễ Cỏ Tranh, Mua Á»Ÿ Dã¢U

– Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng trcầu khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinch.

– Cần thường xuyên cập nhật tình hình dịch tễ và độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương để lựa chọn được kháng sinc phù hợp.

4. Sử dụng kháng sinh khi có minh chứng vi khuẩn học

– Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của kháng sinh đồ, kháng sinch được lựa chọn là kháng sinc có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất gần với các tác nhân gây bệnh được phát hiện.

– Ưu tiên sử dụng kháng sinch đơn độc.

– Phối hợp kháng sinch chỉ cần thiết nếu:

+ Chứng minc có nhiễm đồng thời toàn bộ vi khuẩn nên cần phối hợp mới đủ phổ tác dụng (đặc biệt những trường hợp nghi ngờ có vi khuẩn kỵ khí hoặc vi khuẩn nội bào).

+ Hoặc Lúc gặp vi khuẩn kháng thuốc mạnh, cần phối hợp để tăng thêm tác dụng.

+ Hoặc Khi điều trị kéo dài, cần phối hợp để giảm nguy cơ kháng thuốc (ví dụ: điều trị lao, HIV…).

5. Lựa lựa chọn đường đưa thuốc

– Đường uống là đường dùng được ưu tiên vì tính tiện dụng, an toàn và giá thành rẻ. Cần lưu lại ý lựa chọn kháng sinch có sinch khả dụng cao và ít bị hình ảnh hưởng bởi thức ăn (Bảng I.8).

– Sinh khả dụng từ 50% trở lên là giỏi, từ 80% trở lên được coi là thu phục đường uống tương tự đường tiêm. Những trường hợp này chỉ nên dùng đường tiêm Khi không thể uống được. Việc chọn kháng sinch mà khả năng hấp thụ ít bị hình ảnh hưởng bởi thức ăn sẽ bảo đảm được sự tuân thủ điều trị của người bệnh hay hơn và khả năng điều trị thành công cao hơn.

– Đường tiêm chỉ được dùng trong những trường hợp sau:

+ Khi khả năng hấp thụ qua đường tiêu hoá bị hình ảnh hưởng (bởi vì bệnh lý đường tiêu hoá, khó nuốt, nôn nhiều…).

+ khi cần nồng độ kháng sinch trong máu cao, khó đạt được bằng đường uống: điều trị nhiễm khuẩn ở các tổ chức khó thấm thuốc (viêm màng não, màng trong trái tim, viêm xương khớp nặng…), nhiễm khuẩn trầm trọng và tiến triển nhanh.

Tuy nhiên, cần coi xét chuyển ngay lập tức lịch sự đường uống Khi có thể.

Bảng I.8. Sinh khả dụng của một số kháng sinh đường uống

*

6. Độ nhiều năm lần chữa bệnh kháng sinh

– Độ dài điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh. Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường đạt kết quả sau 7 – 10 ngày dẫu vậy những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinc khó thâm nhập (màng tyên, màng não, xương-khớp…), bệnh lao… thì đợt điều trị kéo dài hơn nhiều. Tuy nhiên, một số bệnh nhiễm khuẩn chỉ cần một đợt ngắn nlỗi nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục không biến chứng (gần đúng 3 ngày, thậm chí một liều duy nhất).

– Sự xuất hiện nhiều kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài đã cho phép giảm được đáng kể số lần dùng thuốc vào đợt điều trị, làm thuận lợi hơn mang đến việc tuân thủ điều trị của người bệnh; ví dụ: dùng azithromycin chỉ là một đợt 3 – 5 ngày, thậm chí một liều duy nhất.

– Không nên điều trị kéo dài để kiêng kháng thuốc, tăng tỷ kệ xuất hiện tác dụng không hy vọng muốn và tăng đưa ra phí điều trị.

7. Lưu ý chức năng không hề muốn và độc tính Lúc sử dụng dung dịch phòng sinc

– Tất cả các kháng sinch đều có thể gây ra tác dụng không hy vọng muốn (ADR), vì đó cần cân nhắc nguy cơ/lợi ích trmong Khi quyết định kê đơn. Mặc dù đa số trường hợp ADR sẽ tự khỏi Lúc ngừng thuốc mà lại nhiều trường hợp hậu quả rất trầm trọng, ví dụ Lúc gặp hội chứng Stevens – Johnson, Lyell… ADR nghiêm trọng có thể dẫn tới tử vong ngay lập tức là sốc phản vệ. Các loại phản ứng quá

mẫn thường liên quan liêu đến tiền sử dùng kháng sinc ở người bệnh, vày đó phải knhì thác tiền sử dị ứng, tiền sử dùng thuốc ở người bệnh trcầu khi kê đơn và phải luôn sẵn sàng các phương tiện chống sốc Khi sử dụng kháng sinc.

– Gan và thận là 2 cơ quan lại chính thải trừ thuốc, vị đó sự suy giảm chức năng những cơ quan tiền này dẫn đến giảm khả năng thải trừ kháng sinc, kéo dài thời gian lƣu của thuốc vào cơ thể, làm tăng nồng độ dẫn đến tăng độc tính. Do đó phải thận trọng khi kê đơn kháng sinh mang lại người cao tuổi, người suy giảm chức năng gan – thận vì tỷ lệ gặp ADR và độc tính cao hơn ngƣời bình thường.

– Vị trí bài xuất chính chỉ nơi kháng sinh đi qua ở dạng còn hoạt tính. Từ Bảng I.9 cho thấy hai kháng sinh có thể ở cùng một nhóm mà lại đặc tính dược động học không như thể nhau. Đặc điểm này giúp mang đến việc lựa chọn kháng sinc theo cơ địa người bệnh.

– Cần hiệu chỉnh lại liều lượng và/hoặc giao động cách đưa thuốc theo chức năng gan – thận để tránh tăng nồng độ quá mức mang đến phép với những kháng sinch có độc tính cao trên gan và/hoặc thận.

– Với người bệnh người bệnh suy thận, phải đánh giá chức năng thận theo độ tkhô nóng thải creatinin và mức liều tương ứng sẽ được ghi ở mục “Liều dùng mang đến người bệnh suy thận”.

– Với người bệnh suy gan, không có thông số hiệu chỉnh nlỗi với người bệnh suy thận mà phải tuân theo khuyên bảo của nhà đem lại, thường là căn cứ vào mức độ suy gan theo phân loại Child-Pugh.

Bảng I.9. Cơ quan tiền bài xuất chính của một số kháng sinh

*

Những nội dung chính trong các nguyên tắc trên được tóm tắt thành nguyên tắc

*

Bảng I.10. Nguyên tắc MINDME vào sử dụng kháng sinh

KẾT LUẬN

Để điều trị thành công nhiễm khuẩn phụ thuộc nhiều yếu tố, tổng quan tình trạng bệnh lý, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh. Các kiến thức về phân loại kháng sinc, về PK/PD sẽ giúp đến việc lựa chọn kháng sinc và xác định lại chế độ liều tối ưu cho từng nhóm kháng sinh, là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp lý. Đây cũng là những nội dung quan liêu trọng đối với mỗi thầy thuốc để bảo đảm hiệu quả – an toàn – gớm tế và giảm tỷ lệ kháng kháng sinch vào điều trị.